Ngọn Su Su Mang trong mình cả cái se lạnh của sương núi.
Chẳng biết tự bao giờ, thứ rau dân dã của những ngày tháo giàn ấy lại lẳng lặng vươn mình, chễm chệ trở thành món đặc sản trứ danh thiết khách. Ngọn su su dễ tính, luộc lên xanh biếc, chấm cùng bát kho quẹt mằn mặn hay đĩa muối vừng rắc lạc thì trôi cơm vô cùng.
Ngọn Su Su
Mang trong mình cả cái se lạnh của sương núi
Nhớ thuở trước, dây su su cứ thế vô tư vươn rợp trên giàn, đan dệt thành một thảm xanh. Hồi ấy, ngọn su su quý lắm, người ta phải nhường vẹn nguyên dòng nhựa sống cho cây đơm hoa, kết quả. Chỉ đến độ cuối thu đầu đông, khi những đợt gió hanh hao ùa về, vườn su su bắt đầu tàn lụi chuẩn bị phá giàn, người nông dân mới đành bứt mớ ngọn non nớt còn sót lại để mang vào bếp. Cứ ngỡ chỉ là thứ "của mót" mộc mạc làm no bụng qua ngày, ấy vậy mà cái vị giòn sần sật, ngọt thanh mát nơi đầu lưỡi lại khiến người ta vương vấn khôn nguôi.
Người sành ăn chốn thị thành hay ví von ngọn su su là rau "râu rồng", bởi những chiếc tua cuốn xoăn tít, kiêu hãnh vươn đón nắng sương. Thức quà quê ấy xem thế mà tinh tế lạ kỳ. Hái ngọn su su cũng phải biết ý, chỉ nương tay ngắt những nhánh, ngọn non bởi đó là nơi hội tụ đủ nhất sự mềm mọng và ngọt bùi.
Khâu nhặt rau mới thực là một nhịp điệu của sự nhẫn nại. Người ta phải tỉ mẩn tước đi lớp xơ mỏng mờ bên ngoài, mặc cho nhựa xanh có lấm lem dính vào đầu ngón tay. Theo kinh nghiệm truyền lại, cứ bẻ thử phần "râu" cuốn, thấy râu gãy thẳng tắp là đọt non tơ mơn mởn, còn thấy xoăn dai tức là ngọn đã nhuốm màu sương gió, ăn sẽ bã và xơ.
Chẳng biết tự bao giờ, thứ rau dân dã của những ngày tháo giàn ấy lại lẳng lặng vươn mình, chễm chệ trở thành món đặc sản trứ danh thiết khách. Ngọn su su dễ tính, luộc lên xanh biếc, chấm cùng bát kho quẹt mằn mặn hay đĩa muối vừng rắc lạc thì trôi cơm vô cùng.
Điệu đà hơn chút, người ta đem xào tỏi. Dầu mỡ nóng rền xèo xèo, ném vài tép tỏi đập dập cho sém vàng, rồi trút rổ ngọn su su đã vẩy ráo nước vào đảo thật nhanh tay trên lửa lớn. Mùi tỏi phi nồng nàn quyện vào từng ngọn rau bóng bẩy. Nhai đến đâu, nghe rôm rốp và tứa ra thứ nước ngọt thanh đến đó. Dù có đem xào thịt bò, nấu bát canh tôm hay nhúng lẩu ngày đông giá lạnh, ngọn su su vẫn kiêu hãnh giữ nguyên được sắc xanh mướt mát và cái giòn ngọt nguyên thủy chẳng thể lẫn vào đâu được.
"Thứ hương vị ấy chẳng mĩ vị nào sánh kịp, bởi nó là vị của quê nhà, của sự chở che, của những ngày bình yên không vướng bận."
Nhưng rốt cuộc, cái hồn cốt mộc mạc nhất của ngọn su su có lẽ không nằm trong những bàn tiệc sơn hào hải vị. Nó nằm ở một buổi chiều mưa giăng kín hiên nhà, nghe cái dạ dày réo rắt, ta chạy ù ra bờ rào sau vườn, hái vội một nắm "râu rồng" non tơ còn đẫm nước mưa. Nấu vội ấm nước sôi, úp một tô mì tôm giản dị rồi thả mớ su su vào.
Sợi mì dai vàng ươm lấp ló xen lẫn màu xanh ngắt của đọt rau. Húp một ngụm nước dùng sùng sục cay cay, gắp cọng rau nhai giòn rau ráu. Ôi chao, ngọt ngào, no nê và ấm bụng!
Một đọt rau rụt rè nơi góc giàn, mang trong mình cả cái se lạnh của sương núi, sự tần tảo của bàn tay người tước xơ, và bề dày của thời gian từ thuở nghèo khó đến ngày lên mâm đặc sản. Tản mạn về ngọn su su, dường như không chỉ là chuyện ăn chuyện uống, mà là cái cớ để ta chạm tay vào một phần ký ức thật mộc mạc, thật lành hiền của tuổi thơ.